Thứ Tư, 6 tháng 11, 2019

Hen phế quản có di truyền không?

Sinh lý học bệnh hen phế quản

Hen phế quản (hen suyễn) là bệnh viêm mạn tính đường thở do nhiều tế bào và các thành phần tế bào tham dự. Viêm đường thở mạn tính kết hợp với tăng đáp ứng đường thở dẫn đến những đợt thở rít, khó thở, nghẹt lồng ngực, ho tái diễn; các triệu chứng thường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm; những đợt này thường phối hợp với tắc nghẽn đường thở lan toả và phục hồi tự phát hoặc sau điều trị (định nghĩa của GINA). Hai rối loạn sinh lý bệnh đặc trưng trong hen phế quản là tắc nghẽn đường thở và tăng tính đáp ứng của phế quản.

- Tắc nghẽn đường thở: đường thở trong hen phế quản hẹp do nhiều yếu tố:

+ Co thắt cơ trơn phế quản: là nhân tố cốt yếu làm hẹp đường thở.

+ Dày thành phế quản: do phù nề niêm mạc, tiêm nhiễm các tế bào viêm dưới niêm mạc và tái hiện lại cấu trúc đường thở (phì đại cơ trơn phế quản , tăng sinh huyết quản, tăng tế bào tiết nhày, lắng đọng collagen ở ngoại bào).

+ Dịch tiết trong lòng phế quản tăng: do các tế bào biểu mô bong, protein từ huyết tương và chất nhày.

Tắc nghẽn đường thở ở bệnh lý hen thường hay đổi theo từng bệnh nhân và từng thời điểm trên cùng một người bệnh, có thể bình phục hoàn toàn sau điều trị. Tắc nghẽn đường thở gây ra các triệu chứng ho, khò khè, khó thở nặng ngực, làm giảm lưu lượng thở ra, tăng sức cản đường thở, tăng khí cặn, lâu ngày dẫn đến giãn phế nang và có thể gây suy hô hấp, tâm phế mạn.

- Tăng tính đáp ứng phế quản: tăng đáp ứng phế quản vừa là nguyên do vừa là hậu quả của quá trình rối loạn sinh lý bệnh của hen phế quản.

Bệnh hen có di truyền không?

Bệnh hen (suyễn) là một bệnh dị ứng có can dự tới gen, thường gặp 35 - 70% ở người mắc bệnh hen phế quản. Có nhiều gen liên hệ đến bệnh sinh của hen phế quản và khác nhau theo nhóm chủng tộc. Gen kiểm soát đáp ứng miễn nhiễm trong hen phế quản là HLA-DRB1-15. Gen liên hệ đến sản xuất các cytokin viêm, IgE và tăng đáp ứng phế quản ở NTS 5q.

Nhiều nghiên cứu cho thấy con của những người mắc bệnh hen hoặc người có cơ địa dị ứng dễ bị bệnh hen phế quản hơn rất nhiều so với những người khác. Con của cặp vợ chồng có bố hoặc mẹ có cơ địa dị ứng thì có khả năng có cơ địa dị ứng là 33%. Nếu cả bố và mẹ đều có cơ địa dị ứng thì có khả năng mắc hen và các bệnh lý dị ứng lên tới 60%.

Bệnh hen còn bị ảnh hưởng nhiều của nhân tố môi trường và không phải tất những người có cơ địa dễ mắc hen là chắc chắn sẽ xuất hiện bệnh hen, mà chỉ một tỷ lệ nhất mực các đối tượng này phát bệnh hen. Những người có cơ địa mắc hen, nếu xúc tiếp với các nguyên tố dễ gây dị ứng như: lông chó, mèo, khói thuốc lá, thuốc lào, khói bếp than, bụi, phấn hoa, hóa chất, xăng dầu, nhiễm khuẩn, ăn phải thức ăn lạ dễ gây dị ứng như nhộng tằm, cá ngừ, lạc, dứa... có nguy cơ mắc bệnh hen nhiều hơn rõ rệt. Còn người mắc bệnh hen mà tiếp xúc với các nhân tố gây dị ứng nói trên thì dễ bùng phát cơn hen. ngược lại, người có nguy cơ mắc bệnh hen và người mắc bệnh hen mà biết tránh xúc tiếp với các yếu tố dễ gây dị ứng thì tránh được bệnh hen và cơn hen.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, cùng lắng tai chuyên gia PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh chia sẻ qua video sau:

>> Xem thêm tham mưu trực tuyến về phòng và điều trị hiệu quả hen phế quản

Giảm thiểu nguy cơ mắc hen phế quản

Sự phát triển và diễn tiến kéo dài của bệnh lý hen phế quản là do sự tương tác gen - môi trường. thành thử cần lưu ý các nhân tố sau để giảm nguy cơ mắc hen phế quản ở trẻ nói riêng và ở người có nguy cơ mắc hen nói chung:

Với con nít, đặc biệt là trẻ sơ sinh:

- Tránh phơi nhiễm khói thuốc lá trong môi trường lúc mang thi và năm đầu đời

- Khuyến khích sinh qua âm đạo

- Khuyên nuôi con bằng sữa mẹ vì các ích lợi sức khỏe chung

- Nếu có thể, hạn chế sử dụng paracetamol và kháng sinh phổ rộng trong năm đầu đời

- Nuôi con bằng sữa mẹ làm giảm các đợt khò khè lúc mới sinh

- tiếp thụ bổ sung Vitamin D qua thức ăn hoặc ánh sáng dữ hoặc chỉ định của bác sĩ

Với người lớn cần đặc biệt hạn chế xúc tiếp với môi trường ô nhiễm, đặc biệt không hút thuốc lá, tránh viêm đường hô hấp trên tái đi tái lại, không lạm dụng kháng sinh và các thuốc chống viêm có tác tác dụng kéo dài.

trông coi, qua bài viết này, người bệnh đã giải đáp được câu hỏi “Bệnh hen phế quản có di truyền không? và biết thêm thông tin về hen phế quản, trang bị thêm cho mình những kiến thức cấp thiết để phòng hen hiệu quả.

>> Tham khảo thêm thông tin về bệnh hen tại

>> Tổng đài bác sĩ Tư vấn và theo dõi điều trị bệnh miễn cước cuộc gọi 1800 5454 35

Phòng cơn hen tái phát - Điều trị các thể hen phế quản

Thuốc hen P/H điều trị các thể hen phế quản có trình diễn.# khó thở, ho, tức ngực, đờm nhiều; phòng cơn hen tái phát.

Thành phần chính gồm ma hoàng, tế tân, bán hạ, cam thảo, ngũ vị tử, can khương, hạnh nhân, bối mẫu, trần bì, tỳ bà diệp.

Cách dùng và liều dùng: Ngày uống 2 lần sau ăn.

- Trẻ 1- 2 tuổi mỗi lần uống 10ml. Trẻ 3- 6 tuổi mỗi lần uống 15ml. Trẻ 7-12 tuổi mỗi lần uống 20ml.

- Người lớn mỗi lần uống 30ml. Bệnh nặng có thể dùng gấp rưỡi liều trên. Đợt điều trị 8-10 tuần.

Nay đã có thêm dành cho bệnh nhân TIỂU ĐƯỜNG

Sản phẩm của Công ty Đông Dược Phúc Hưng (96-98 Nguyễn Viết Xuân, Hà Đông, Hà Nội).

liên quan 1800 545435 .

thông tin tại hoặc .

Số tiếp thu đăng ký quảng cáo 1163/12/QLD-TT của Cục Quản lý Dược.

Đọc kỹ chỉ dẫn trước khi dùng.

Món ăn thuốc cho trẻ thiếu máu

căn nguyên là do trẻ mắc bệnh giun sán dẫn đến khả năng tiếp nhận sắt quá kém…; lượng sắt tiếp thụ không đầy đủ do ăn uống không đầy đủ chất dinh dưỡng hoặc ăn uống không hợp lý dẫn đến thiếu máu mạn tính…

Trẻ sắc mặt trắng xanh, môi, móng tay nhợt nhạt, thịt nhẽo, mỏi mệt, biếng chơi, không muốn ăn, bứt rứt. Trường hợp nặng có thể bị thiếu máu kinh niên kèm theo gan, lách sưng to, bụng ỏng, ống quyển nhỏ, xét nghiệm máu số lượng hồng cầu thấp, sắt trong huyết thanh hạ thấp. Sau đây là một số món ăn thuốc tốt cho trẻ.

Cháo gan gà: gan và tiết gà 1 bộ, gạo 50g, dầu thực vật, gia vị vừa đủ. Gan gà băm nhỏ, tiết gà cắt miếng nhỏ, ướp gia vị, xào bằng dầu thực vật cho chín. Gạo xay thành bột cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, quấy đều đun trên lửa nhỏ, khi cháo chín cho gan và tiết gà vào đảo đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 2 lần lúc đói. Cần ăn liền 10 ngày, nghỉ 5 ngày lại cho ăn tiếp 10 ngày.

Cháo lươn: lươn 200g, gạo 50g, gừng 5g, dầu thực vật, gia vị vừa đủ. Lươn làm sạch bỏ nội tạng, bỏ đầu từ mắt trở lên, bỏ đuôi từ hậu môn xuống. Cho lươn vào bát to, hấp cách thủy cho chín, gỡ lấy thịt nạc. Gừng giã nhỏ lọc lấy 1 thìa canh nước cùng nước mắm, bột canh cho vào thịt lươn trộn đều, dùng dầu thực vật xào cho khô. Xương lươn giã nhỏ lọc lấy nước ngọt. Gạo xay thành bột cho vào nước chín, xương lươn đun trên lửa nhỏ, cháo chín cho thịt lươn vào đảo đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần lúc đói. Cần ăn khoảng 15 - 20 ngày.

Chim bồ câu hấp: chim bồ câu 1 con, phòng sâm 15g, đương quy 20g, gia vị vừa đủ (nếu không có phòng sâm, đương quy, có thể thay bằng hạt sen, long nhãn). Chim bồ câu chọn con mới biết bay, làm sạch, bỏ nội tạng, cho phòng sâm, đương quy, bột canh vào bụng chim khâu kín, hầm cách thủy, chim chín cho trẻ ăn làm 2 lần trong ngày. Cách 2 ngày ăn 1 ngày. Cho trẻ ăn khoảng từ 5 - 10 con.

Mộc nhĩ đen hấp: Mộc nhĩ đen 15g, táo tàu 15 quả, thịt lợn nạc 50g, đường trắng 10g. Mộc nhĩ đen ngâm mềm, rửa sạch thái thật nhỏ. Táo tàu bỏ hạt thái nhỏ, Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ. bít tất cho vào bát trộn đều với đường trắng, hấp cách thủy, thịt chín cho trẻ ăn ngày 1 lần. Ăn liền 10 - 15 ngày.

Lưu ý: Trẻ bị thiếu máu thiếu sắt cần tăng cường các thức ăn, nước uống giàu sắt như rau muống, các loại đậu, trứng gà vịt, chim, thịt nạc, gan động vật, tiết gà vịt…; các loại quả tươi có nhiều vitamin A, C như cam, quýt, táo, cà chua, cà rốt, gấc, dưa chuột, cải xanh… Không cho trẻ ăn nhiều mỡ động vật, trái cây có nhiều dầu, các chất cay nóng khó tiêu.

danh y Đình Thuấn

Hen phế quản có di truyền không?

Sinh lý học bệnh hen phế quản

Hen phế quản (suyễn) là bệnh viêm mạn tính đường thở do nhiều tế bào và các thành phần tế bào tham dự. Viêm đường thở mạn tính phối hợp với tăng đáp ứng đường thở dẫn đến những đợt thở rít, khó thở, nghẹt lồng ngực, ho tái diễn; các triệu chứng thường xảy ra về đêm hoặc sáng sớm; những đợt này thường phối hợp với tắc nghẽn đường thở lan toả và bình phục tự phát hoặc sau điều trị (định nghĩa của GINA). Hai rối loạn sinh lý bệnh đặc trưng trong hen phế quản là tắc nghẽn đường thở và tăng tính đáp ứng của phế quản.

- Tắc nghẽn đường thở: đường thở trong hen phế quản hẹp do nhiều nhân tố:

+ Co thắt cơ trơn phế quản: là nguyên tố cốt làm hẹp đường thở.

+ Dày thành phế quản: do phù nề niêm mạc, thâm nhiễm các tế bào viêm dưới niêm mạc và tái hiện lại cấu trúc đường thở (phì đại cơ trơn phế quản , tăng sinh huyết mạch, tăng tế bào tiết nhày, lắng đọng collagen ở ngoại bào).

+ Dịch tiết trong lòng phế quản tăng: do các tế bào biểu mô bong, protein từ huyết tương và chất nhày.

Tắc nghẽn đường thở ở bệnh lý hen thường hay đổi theo từng bệnh nhân và từng thời điểm trên cùng một người bệnh, có thể hồi phục hoàn toàn sau điều trị. Tắc nghẽn đường thở gây ra các triệu chứng ho, khò khè, khó thở nặng ngực, làm giảm lưu lượng thở ra, tăng sức cản đường thở, tăng khí cặn, lâu ngày dẫn đến giãn phế nang và có thể gây suy hô hấp, tâm phế mạn.

- Tăng tính đáp ứng phế quản: tăng đáp ứng phế quản vừa là nguyên cớ vừa là hậu quả của quá trình rối loạn sinh lý bệnh của hen phế quản.

Bệnh hen có di truyền không?

Bệnh hen (suyễn) là một bệnh dị ứng có can hệ tới gen, thường gặp 35 - 70% ở người mắc bệnh hen phế quản. Có nhiều gen can dự đến bệnh sinh của hen phế quản và khác nhau theo nhóm chủng tộc. Gen kiểm soát đáp ứng miễn dịch trong hen phế quản là HLA-DRB1-15. Gen liên can đến sản xuất các cytokin viêm, IgE và tăng đáp ứng phế quản ở NTS 5q.

Nhiều nghiên cứu cho thấy con của những người mắc bệnh hen hoặc người có cơ địa dị ứng dễ bị bệnh hen phế quản hơn rất nhiều so với những người khác. Con của cặp vợ chồng có bố hoặc mẹ có cơ địa dị ứng thì có khả năng có cơ địa dị ứng là 33%. Nếu cả bố và mẹ đều có cơ địa dị ứng thì có khả năng mắc hen và các bệnh lý dị ứng lên tới 60%.

Bệnh hen còn bị ảnh hưởng nhiều của yếu tố môi trường và không phải tuốt tuột những người có cơ địa dễ mắc hen là chắc chắn sẽ xuất hiện bệnh hen, mà chỉ một tỷ lệ một mực các đối tượng này phát bệnh hen. Những người có cơ địa mắc hen, nếu tiếp xúc với các nguyên tố dễ gây dị ứng như: lông chó, mèo, khói thuốc lá, thuốc lào, khói bếp than, bụi, phấn hoa, hóa chất, xăng dầu, nhiễm khuẩn, ăn phải thức ăn lạ dễ gây dị ứng như nhộng tằm, cá ngừ, lạc, dứa... có nguy cơ mắc bệnh hen nhiều hơn rõ rệt. Còn người mắc bệnh hen mà tiếp xúc với các yếu tố gây dị ứng nói trên thì dễ bùng phát cơn hen. ngược lại, người có nguy cơ mắc bệnh hen và người mắc bệnh hen mà biết tránh xúc tiếp với các yếu tố dễ gây dị ứng thì tránh được bệnh hen và cơn hen.

Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, cùng lắng nghe chuyên gia PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Dinh chia sẻ qua video sau:

>> Xem thêm Tư vấn trực tuyến về phòng và điều trị hiệu quả hen phế quản

Giảm thiểu nguy cơ mắc hen phế quản

Sự phát triển và diễn tiến kéo dài của bệnh lý hen phế quản là do sự tương tác gen - môi trường. do vậy cần lưu ý các yếu tố sau để giảm nguy cơ mắc hen phế quản ở trẻ nói riêng và ở người có nguy cơ mắc hen nói chung:

Với trẻ em, đặc biệt là trẻ lọt lòng:

- Tránh phơi nhiễm khói thuốc lá trong môi trường lúc mang thi và năm đầu đời

- Khuyến khích sinh qua âm đạo

- Khuyên nuôi con bằng sữa mẹ vì các ích sức khỏe chung

- Nếu có thể, hạn chế sử dụng paracetamol và kháng sinh phổ rộng trong năm đầu đời

- Nuôi con bằng sữa mẹ làm giảm các đợt khò khè lúc mới sinh

- thu nhận bổ sung Vitamin D qua thức ăn hoặc ánh sáng thái dương hoặc chỉ định của thầy thuốc

Với người lớn cần đặc biệt hạn chế tiếp xúc với môi trường ô nhiễm, đặc biệt không hút thuốc lá, tránh viêm đường hô hấp trên tái đi tái lại, không lạm dụng kháng sinh và các thuốc chống viêm có tác tác dụng kéo dài.

nhìn nhận, qua bài viết này, người bệnh đã trả lời được câu hỏi “Bệnh hen phế quản có di truyền không? và biết thêm thông tin về hen phế quản, trang bị thêm cho mình những kiến thức cần thiết để phòng hen hiệu quả.

>> Tham khảo thêm thông báo về bệnh hen tại

>> Tổng đài bác sĩ tham mưu và theo dõi điều trị bệnh miễn cước cuộc gọi 1800 5454 35

Phòng cơn hen tái phát - Điều trị các thể hen phế quản

Thuốc hen P/H điều trị các thể hen phế quản có biểu đạt khó thở, ho, tức ngực, đờm nhiều; phòng cơn hen tái phát.

Thành phần chính gồm ma hoàng, tế tân, bán hạ, cam thảo, ngũ vị tử, can khương, hạnh nhân, bối mẫu, trần bì, tỳ bà diệp.

Cách dùng và liều dùng: Ngày uống 2 lần sau ăn.

- Trẻ 1- 2 tuổi mỗi lần uống 10ml. Trẻ 3- 6 tuổi mỗi lần uống 15ml. Trẻ 7-12 tuổi mỗi lần uống 20ml.

- Người lớn mỗi lần uống 30ml. Bệnh nặng có thể dùng gấp rưỡi liều trên. Đợt điều trị 8-10 tuần.

Nay đã có thêm dành cho bệnh nhân TIỂU ĐƯỜNG

Sản phẩm của Công ty Đông Dược Phúc Hưng (96-98 Nguyễn Viết Xuân, Hà Đông, Hà Nội).

can dự 1800 545435 .

thông tin tại hoặc .

Số hấp thụ đăng ký lăng xê 1163/12/QLD-TT của Cục Quản lý Dược.

Đọc kỹ hướng dẫn trước khi dùng.

Món ăn thuốc cho trẻ thiếu máu

nguyên cớ là do trẻ mắc bệnh giun sán dẫn đến khả năng hấp thụ sắt quá kém…; lượng sắt kết nạp không đầy đủ do ăn uống không đầy đủ chất dinh dưỡng hoặc ăn uống không hợp lý dẫn đến thiếu máu mãn tính…

Trẻ sắc mặt trắng xanh, môi, móng tay nhợt nhạt, thịt nhẽo, mệt mỏi, biếng chơi, không muốn ăn, bứt rứt. Trường hợp nặng có thể bị thiếu máu mãn tính kèm theo gan, lách sưng to, bụng ỏng, ống chân nhỏ, xét nghiệm máu số lượng hồng cầu thấp, sắt trong huyết thanh hạ thấp. Sau đây là một số món ăn thuốc tốt cho trẻ.

Cháo gan gà: gan và tiết gà 1 bộ, gạo 50g, dầu thực vật, gia vị vừa đủ. Gan gà băm nhỏ, tiết gà cắt miếng nhỏ, ướp gia vị, xào bằng dầu thực vật cho chín. Gạo xay thành bột cho vào nồi, đổ nước vừa đủ, quấy đều đun trên lửa nhỏ, khi cháo chín cho gan và tiết gà vào đảo đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 2 lần lúc đói. Cần ăn liền 10 ngày, nghỉ 5 ngày lại cho ăn tiếp 10 ngày.

Cháo lươn: lươn 200g, gạo 50g, gừng 5g, dầu thực vật, gia vị vừa đủ. Lươn làm sạch bỏ nội tạng, bỏ đầu từ mắt trở lên, bỏ đuôi từ lỗ đít xuống. Cho lươn vào bát to, hấp cách thủy cho chín, gỡ lấy thịt nạc. Gừng giã nhỏ lọc lấy 1 thìa canh nước cùng nước mắm, bột canh cho vào thịt lươn trộn đều, dùng dầu thực vật xào cho khô. Xương lươn giã nhỏ lọc lấy nước ngọt. Gạo xay thành bột cho vào nước chín, xương lươn đun trên lửa nhỏ, cháo chín cho thịt lươn vào đảo đều, cháo sôi lại là được. Cho trẻ ăn ngày 1 lần lúc đói. Cần ăn khoảng 15 - 20 ngày.

Chim bồ câu hấp: chim bồ câu 1 con, phòng sâm 15g, đương quy 20g, gia vị vừa đủ (nếu không có phòng sâm, đương quy, có thể thay bằng hạt sen, long nhãn). Chim bồ câu chọn con mới biết bay, làm sạch, bỏ nội tạng, cho phòng sâm, đương quy, bột canh vào bụng chim khâu kín, hầm cách thủy, chim chín cho trẻ ăn làm 2 lần trong ngày. Cách 2 ngày ăn 1 ngày. Cho trẻ ăn khoảng từ 5 - 10 con.

Mộc nhĩ đen hấp: Mộc nhĩ đen 15g, táo tàu 15 quả, thịt lợn nạc 50g, đường trắng 10g. Mộc nhĩ đen ngâm mềm, rửa sạch thái thật nhỏ. Táo tàu bỏ hạt thái nhỏ, Thịt lợn nạc rửa sạch băm nhỏ. vơ cho vào bát trộn đều với đường trắng, hấp cách thủy, thịt chín cho trẻ ăn ngày 1 lần. Ăn liền 10 - 15 ngày.

Lưu ý: Trẻ bị thiếu máu thiếu sắt cần tăng cường các thức ăn, nước uống giàu sắt như rau muống, các loại đậu, trứng gà vịt, chim, thịt nạc, gan động vật, tiết gà vịt…; các loại quả tươi có nhiều vitamin A, C như cam, quýt, táo, cà chua, cà rốt, gấc, dưa chuột, cải xanh… Không cho trẻ ăn nhiều mỡ động vật, trái cây có nhiều dầu, các chất cay nóng khó tiêu.

danh y Đình Thuấn

Hội tim mạch học Việt Nam thành lập đơn vị hỗ trợ thông tin cho người mắc bệnh động mạch vành

Như là một phần trong cố gắng của Ngành tim mạch học Việt Nam về giáo dục sức khỏe cộng đồng về bệnh mạch vành, tháng 9/2019 vừa qua Hội Tim mạch học Việt Nam đã phát triển Chuyên mục hỗ trợ trực tuyến trên website - chuyên trang giáo dục sức khỏe cộng đồng về bệnh động mạch vành. Chuyên mục với tên gọi “We are here”, là nơi người bệnh, người thân hoặc những người dân quan tâm đến sức khỏe tim mạch đặt các câu hỏi trực tiếp với các thầy thuốc chuyên khoa Tim mạch từ Hội Tim mạch học Việt Nam về: trình diễn.# bị đau ngực, đau thắt cơ ngực trái, đau thắt ngực khó thở…và các vấn đề liên hệ đến bệnh mạch vành mà bạn đang gặp phải.

Hình ảnh website và chuyên mục “We are here”

(Nguồn: Hội Tim mạch học Việt Nam)

6 bài thuốc trị viêm đường mật

căn do gây bệnh thường do sỏi, do vi khuẩn, do can khí uất kết hoặc do thấp nhiệt. Triệu chứng điển hình của bệnh là đau, sốt và vàng da. Người bệnh thường đau ở vùng hạ sườn phải, đau lan đến vùng thượng vị, đau tức khó chịu, đau lan ra phía sau và lan lên vai phải, có khi đau dữ dội khiến bệnh nhân thường nằm co một chân; có thể kèm theo sốt từ 39-40 0 C, kéo dài và âm ỉ, miệng đắng, ăn ít hoặc không muốn ăn, tiêu hóa kém, người mỏi mệt, sút cân nhanh, vàng da vàng mắt do dịch mật bị ứ lại.

Nguyên tắc điều trị theo Đông y là chống viêm thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp, nếu có sỏi thì cần phải bài thạch... Sau đây là một số bài thuốc điều trị:

Bài 1: chỉ xác 10g, lá đinh lăng 50-60g. Hai thứ nấu lấy nước đặc, uống dần, 2-3 lần liền có tác dụng thông ống dẫn mật, từ đó giúp giảm đau rất nhanh.

Bài 2: đại hoàng 8g, kim tiền thảo 16g, bồ công anh 16g, kim ngân 16g, nhân trần 12g, cam thảo 12g, xa tiền 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Bài 3: đinh lăng 16g, lá đắng 10g, cỏ mần trầu 12g, ngân hoa 12g, chỉ xác 10g, bạch thược 12g, đan bì 10g, chi tử 12g, phòng sâm 12g, bạch linh 10g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Bài 4: nhân trần 10g, hạ liên châu 12g, rau má 16g, đại hoàng 6g, bach truật 12g, ích mẫu 12g, kim ngân 12g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần.

Bài 5: ngân hoa 12g, liên kiều 10g, mã đề thảo 16g, rau má 16g, bồ công anh 16g, đại hoàng 6g, bạch thược 12g, phòng sâm 12g, đan sâm 10g, ích mẫu 16g, cam thảo đất 16g. Ngày 1 thang, sắc 3 lần uống 3 lần. Công dụng: chống viêm, bài thạch, lợi gan mật.

Bài 6 (Trà dược phòng trị sỏi đường mật) : râu ngô 80g, nhân trần 50g, hạ liên châu 50g, rau má 100g, lá đinh lăng 100g, cam thảo 80g, phòng sâm 80g, sâm hành 80g (dược chất ở dạng khô). Các vị cắt ngắn, sao giòn trộn đều, bảo quản trong bình kín tránh ẩm. Ngày dùng 35-40g, hãm nước sôi sau 10 phút là dùng được, uống thay trà. Công dụng: chống viêm, thanh nhiệt, lợi mật hóa thấp. Những người bị viêm tắc ống mật, sỏi mật, da vàng tiểu vàng, mắt vàng, ăn uống kém, tiêu hóa chậm, đau tức hạ sườn phải... dùng phương này rất hợp.

BS. Thanh Ngọc

Hội tim mạch học Việt Nam thành lập đơn vị hỗ trợ thông tin cho người mắc bệnh động mạch vành

Như là một phần trong cầm cố của Ngành tim mạch học Việt Nam về giáo dục sức khỏe cộng đồng về bệnh mạch vành, tháng 9/2019 vừa qua Hội Tim mạch học Việt Nam đã phát triển Chuyên mục hỗ trợ trực tuyến trên website - chuyên trang giáo dục sức khỏe cộng đồng về bệnh động mạch vành. Chuyên mục với tên gọi “We are here”, là nơi người bệnh, người thân hoặc những người dân quan tâm đến sức khỏe tim mạch đặt các câu hỏi trực tiếp với các Bác sĩ chuyên khoa Tim mạch từ Hội Tim mạch học Việt Nam về: mô tả bị đau ngực, đau thắt cơ ngực trái, đau thắt ngực khó thở…và các vấn đề liên quan đến bệnh mạch vành mà bạn đang gặp phải.

Hình ảnh website và chuyên mục “We are here”

(Nguồn: Hội Tim mạch học Việt Nam)